To view text in Vietnamese, set your browser's setting to View>Encoding>Unicode (UTF-8)
 

Martial Arts School:
389 E. Santa Clara St.,
San Jose, CA 95113


Practice Time
:
6:30-8:30 PM
Mons and Weds

Contact Us:
VS Phạm Thế Hiển

Webmaster

 

 
Activities
Techniques
Philosophy
Gallery
History
Literature

GIÁ TRỊ NHÂN BẢN CỦA VIỆT VÕ ĐẠO

(Trích lược bài giảng thuyết của Võ sư chưởng môn Lê Sáng dành cho phái đoàn Việt Võ Đạo Châu Âu hành hương Việt Nam và chiêm bái Tổ Đường Việt Võ Đạo)

TÍNH CHẤT NHÂN BẢN CỦA VÕ THUẬT VÀ VÕ ĐẠO

Thời xưa, tại phương Đông, vì đất rộng người nhiều và vì hệ thống giao thông kém, kinh đô xa, con người chỉ có cách tăng cường khả năng tự tôn, chớ không thể chờ pháp luật can thiệp, giải quyết hộ những bất công. Vì vậy, nẩy sinh một công thức:

  • Hạng người thứ nhất, học võ để tự vệ (để phòng giặc cướp).
  • Hạng người thứ hai, học võ để tranh chiếm (muốn áp bức người, giành lợi, phải giỏi hơn).

Và theo luật thừa trừ, cũng nẩy sinh hạng người thứ ba trọng tài, can gián, dùng võ lực can thiệp, để:

  1. Cứu người bị áp bức, hoặc
  2. Đôi khi, lợi dụng tình thế để tranh đoạt quyền lợi về mình.

Tất nhiên, người có thế nắm vai tuồng thứ ba kia phải là một người xuất sắc và có những khả năng đặc biệt, như: võ công cao hơn, có nhiều uy tín, hoặc nhiều mưu lược, giỏi tâm lý, biết cách can gián.

Do đó, tự bản thân võ thuật, chúng đã có những gía trị đặc biệt, về cả xấu lẫn tốt. Gạt bỏ những gía trị xấu, giữ lại và phát triển những gía trị tốt, là đã nâng võ thuật lên hàng võ đạo.

Tiếng “ĐẠO” của người phương Đông – nơi nhu cầu và tài nghệ của con người được nghệ thuật hóa và triết hóa tới cao độ - quả thật, chưa có một từ ngữ tương đương nào của phương Tây có thể dịch thóat, vì “ĐẠO” ngoài ý nghĩa là “con đường, là “thông lộ, còn bao hàm cả những ý nghĩa về tôn giáo, luân lý và nghệ thuật.

Ví dụ: Uống trà là một nhu cầu thông thường, nhưng biết cách thưởng thức trà và những ý nghĩa thanh cao của việc uống trà kết bạn, giúp ích xã hội, là trà đạo. Uống rượu là một thú vui, nhưng biết cách uống rượu với những nghi tắc đặc biệt, và một quan niệm cao khiết về nhân tâm thế đạo, hiển ích nhân quân, là tửu đạo. Thưởng hoa là một thú vui thông thường trong đời sống, nhưng biết cách thưởng ngạn là nghệ thuật thưởng hoa, và nâng cao hơn những về đạo sống giúp tiến hỉên ích là hoa đạo.

Võ thuật cũng vậy. Học võ, để trau giồi kỹ thuât tự vệ hay chiến đấu hoặc dùng làm nghề mưu sinh, là võ thuật, võ nghệ. Nhưng học võ ý thức cao hướng thiện và cải thiện con người toàn diện, có quan niệm hành võ tốt, phục vụ con người là võ đạo. Do đó, học võ cốt để khoe khoang, thì tài, hiếu thắng và tranh thắng, hoặc ý hướng tốt, sang khuynh hướng tốt, để đạt tới lý tưởng cao đẹp. Lý tưởng cao đẹp đó chính là do người, vì người và phát triển con người, để con người luôn luông thăng tiến về mọi mặt, hầu có thể đóng góp khả năng giúp ích và hiển ích cho xã hội nhiều hơn. Ý hướng phục vụ con người, hướng thiện con người để làm cho xã hội tốt đẹp hơn, là ý hướng nhân bản. Khoa học phục vụ con người, để học mang tính nhân bản. Võ thuật phục vụ con người, là võ thuật mang tính nhân bản, thăng tiến thành võ đạo.

VÕ THUẬT PHẢI ĐƯỢC HỆ THỐNG HÓA VÀ HIỆN ĐẠI HÓA

Ta Trở lại với lối học võ của tiền nhân, lối học võ thích dụng, cho một trình độ tiến hóa đã qua, hệ thống giao thông kém, phương tiện chuyển vận tồi- đi khoảng trăm cây số, nếu đi ngựa phải mất một ngày hoặc đi bộ phải mất ba, bốn ngày. Đi thuyền cũng chỉ tương tự như đi bộ hay đi ngựa, tùy theo vận tốc.

Điều này có quan hệ gì tới võ học đương thời? Xin đáp: rất quan hệ, vì hệ thống giao thông còn yếu kém, việc di chuyển khó khăn, nên sự truyền thông kiến thức – kể cả những kiến thức về kỹ thuật – rất giới hạn. Võ thuật cũng vậy, mỗi vùng có những cách thức luyện tập khác nhau, đòn thế khác nhau, kỹ thuật sử dụng khí giới khác nhau. Do vậy kỹ thuật chiến đấu bằng quyền cước chung của dân tộc thật vô cùng phong phú, nhưng mỗi môn phái chỉ nắm giữ được ít nhiều bí thuật. Bởi đó, tinh thần tự tôn, chia thành môn phái càng ngày càng lên cao, nghiệt ngã, môn đồ nào sử dụng đòn thế không phải của sư môn sẽ bị khai trừ, liệt vào hạng phản đồ.

Sự trao đổi kiến thức về võ thuật có chăng, là chỉ nhằm vào những ngày hội làng với những môn giải trí đô vật hay giao đấu cá nhân, là nghững ngày long trọng trong năm quy tụ cả những khán giả trong làng và những khán giả làng bên. Đời Trần có Giảng Võ Đường và chính sách cưỡng bách học tập võ nghệ, nhưng chú trọng nhiều vào giai cấp quý tộc và thiện dụng vũ khí hơn là căn bản quyền cước, để đáp ứng kịp thời với nhu cầu chống xâm lăng Mông Cổ. Đời Lê có chương trình cưỡng bách học tập võ nghệ cùng vớI kiến thức văn hóa qua các khoa thi Minh Kinh Khoa áp dụng cho các hàng quan văn võ từ tứ phẩm trở xuống, nhưng chưa phát động sâu rộng được trong quảng đại quần chúng, mặc dầu vẫn khích lệ gián tiếp bằng các khoa thi Minh Kinh Khoa cả văn lẫn võ được mở khắp nơi.

Trong khi đó, võ thuật căn bản là quyền cước vẫn được âm thầm trui rèn, mỗi ngày thêm sắc bén bởi những vị võ sư ẩn danh. Song kỹ thuật càng tinh tiến, tâm hồn càng đóng khung vào cảnh trầm lắng, tịch mịch vô vi, thóat tục, xa lìa cuộc sống.

Vì giao thông hạn chế, nên việc truyền thông, hội nhập và thái dụng các tinh hoa võ thuật cũng bị hạn chế theo. Ta thấy rõ: võ Bình Định khác với võ Sơn Tây, võ Quảng Nam khác với võ Thanh Nghệ, võ Gia Định khác với võ Hà Đông, võ 18 Thôn Vườn Trầu khác với võ Tân Khánh, tuy cùng có chung một xuất xứ là võ Việt Nam. Đã thế, kiến thức võ học chẳng những không trau giồi thêm, mà còn có thể bị mai một đi vì lối dạy “kén học trò”, ngày xưa , mỗi lò võ hay võ đường chỉ gồm dăm bảy môn sinh, hoặc nhiều lắm là vài chục môn sinh. Phương phát huấn luyện lại nghiêng về gia truyền, tâm truyền, bí truyền và môn truyền: võ của họ này không truyền cho họ khác, hoặc chỉ truyền cho vài môn đệ thật xứng đáng, rồi còn lo xa, giữ lại vài miếng bí hiểm, cốt để phòng xa khi bị học trò phản bội “dùng” võ thầy đánh lại thầy. Môn phái này không bao giờ học hay dạy môn đồ môn phái khác. Làm trái lại là khinh sư phản môn.

Bây giờ khác hơn. Nhờ những phương tiện giao thông tân tiến, chúng ta có thể thâu nhập và thái dụng mọi tinh hoa võ học trong nước, đồng thời, chế biến để hóa giải và khắc thế các tinh hoa võ học nước ngoài. Xưa chống lại giáo dài, nay chống lại lưỡi lê. Xưa tay không chống với đoản đao, nay chống với dao găm (nhỏ hơn đoản đao) và các súng Colt. Xưa chú trọng đến đấu sức, nay chú trọng đến cả đấu mưu, đấu trí. Xưa, trọng nhiều về nội công, nay nghiêng về kỹ thuật, với cả những phương pháp té không đau, quăng quật và sự đối phó thông thường khi đối phương bất ngờ sử dụng võ khí hay xe cộ đâm phải. Xưa, có thể nặng tay đánh chết một kẻ gian ác, nhưng nay chỉ cần khóa tay hay đánh gục, để phần lại cho pháp luật liệu lý v.v…

Rõ rệt là mỗi thời đại, có một nhu cầu riêng về võ họ. Nền võ thuật cần phải được hệ thống hóa và hiện đại hóa, mới có giá trị thực dụng trong đời sống.

VÕ HỌC TRUYỀN THỐNG PHẢI ĐƯỢC TỔNG HỢP VÀ THÁI DỤNG

Võ học Vịet Nam có những đặc thù truyền thống để tồn tại, tiềm ẩn dưới hình thức ôn hòa bình thường và sự nhu giả tạo. Nhưng đặc thù ấy được xuất phát từ tính tình, nếp sống, tập quán lâu đời, đã trở thành truyền thống của người Việt trước mọi cảnh huống và tình huống lịch sử.

Triệu Quang Phục, Mai Hắc Đế, Bổ Cái Đại Vương, Triệu Trinh Nương, Trưng Nữ Vương, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung v.v … đều hiểu rõ nguyên lý “dĩ nhu chế cương” và “cương nhu phối triển” và nhất là “đà” (elan) của võ học: muốn đánh trúng, đánh mạnh, đánh gục, phải lùi lại để lấy “đà”. Thế nước yếu, muốn đánh ngã đối thủ, trước hết phải lùi lại đã mới có “đà” tấn công.

Phải đánh vào chỗ địch yếu, tránh chỗ địch mạnh: Lê Lợi 6 năm đầu tiên không nắm vững được nguyên lý đó, cứ ngày đêm rèn quân để đánh vào chỗ địch mạnh nên thất bại, 5 năm sau, nhờ chiến lược Nguyễn Trãi, đánh vào chỗ địch yếu, nên đã thành công. Quang Trung muốn đánh tan địch bằng một trận tổng phản công quyết định, phải cho địch những cơ hội đánh thắng vài trận nhỏ, rồi mới ra quân đánh trận quyết định tối hậu năm Kỷ Dậu 1789.

Chiến pháp của Trần Hưng Đạo: dĩ nhiên nhu chế cương, dĩ đoản chế trường. Mông Cổ giỏi đánh ngựa và bắn tên, đánh trên rừng và trên sông, hai ưu điểm trở nên vô dụng.

Chiến pháp của Lý Thường Kiệt: đánh thốc vào nội địa địch, nhưng phải dùng tâm lý chiến để yểm trợ ( bài xích tân pháp Vương An Thạch làm dân Tàu khổ). Tới khi Tôn Đản vào Khâm Châu giết hết quân dân địch trong thành, là phải rút ngay vì chính nghĩa mất. Địch đem quân trả thù, ông chỉ dàn quân đánh trận nhỏ, vì biết rồi địch bị kệ về tiếp vận, thủy thổ không hợp nên ốm đau nhiều, phải rút. Rút cũng không đuổi, vì thắng thế là đủ rồi, không thể làm xót: nước nhỏ dân ít, không thể đánh gục hẳn Trung Hoa.

Lê Lợi gạt nước mắt mà làm lại, làm lại mãi: vợ con bị giết, bao lần ra quân bị tiêu diệt để lại phải tổ chức lại, tổ chức lại mãi. Và cuối cùng, ông đã lật ngược được tình thế, chuyển bại thành thắng, nhờ đức tính nhẫn nhục, kinh nghiệm chiến trường và sự thay đổi chiến pháp.

Quang Trung khác hơn, ông biết dân chúng Bắc Hà còn hướng về nhà Lê không phục ông, nên phải thua nhỏ để thắng lớn bằng chiến pháp tốc chiến tốc quyết.

Truyền thống võ học Việt Nam là vậy. Chúng ta nên tách rời cương nhu, công thủ ra thành nhiều môn phái hay kết hợp lại? Dĩ nhiên, phải kết hợp lại theo tinh thần truyền thống Việt Nam. Hồ Quý Ly, nhà Hậu Trần thất bại, nhưng Lê Lợi phải thành công, vì dùng “cương”, dùng “công” không thắng được thì phải dùng “nhu”, dùng “thủ tiên công”.

Đó chính là những kinh nghiệm lịch sử quý báu để chúng ta áp dụng định luật “cương nhu phối triển” cho võ đạo Việt Nam, bằng sự tổng hợp và thái dụng tinh hoa võ học truyền thống dân tộc: không thể thuần nhu hay thuần cương.

QUAN NIỆM HÀNH VÕ PHẢI THÍCH DỤNG

Thời xưa, việc cai trị hoàn toàn trông cậy vào đức độ và tài năng của giới chức cầm quyền, chớ không có hiến pháp và luật pháp như chúng ta ngày nay. Nhà cầm quyền thương dân, liêm khiết, dân được hưởng phúc lợi. Bằng ngược lại, người dân “thấp cổ bé miệng” đành cắn răng chịu đựng bất công, nếu không muốn nổi lên chống lại.

Do đó, càng bị áp bức, bóc lột, đối xử bất công, người dân càng mơ ước được giải thóat do những phép mầu mang lại. Phép mầu của thần thánh đã đành nhưng còn những phép mầu khác, thực tế hơn đó là những vị hiệp sĩ có bản lãnh võ thuật cao, đột nhiên xuất hiện như những vị thiên thần để giúp đỡ họ chống bất công. Tại Việt Nam, những huyền thọai về Đoàn Thượng, Chàng Lai… đã trở thành truyện tích. Nguyễn Hữu Cầu, xuất thân cũng là một hiệp sĩ chống bất công được dân chúng hâm mộ và tin theo. Rồi ông mưu loạn lớn để chống triều đình, nên đã đi vào con đường phản tặc. Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ cũng xuất thân là những hiệp sĩ, diệt trừ tham quan ô lai, tay chân của quyền thần Trương Phúc Loan, nên được dân tin theo mà dựng nên đế nghiệp một thời. Cặp “uyên ương song kiếm” Trần Quang Diệu – Bùi Thị Xuân cùng xuất thân từ một sư môn, hành hiệp nổi tiếng một thời rồi trở thành lương tướng của nhà Tây Sơn.

Ngày xưa thì được: anh hùng cá nhân, giang hồ hành hiệp, giúp đỡ người nghèo thanh trừng bất công- vì đó là xã hội nông nhiệp chân chất của một thời phong kiến đã qua, xã hội không có luật pháp rõ rệt, nên rất cần những người hùng đơn độc xuất hiện như những vị phúc thần, giúp dân trừ bạo.

Nhưng ngày nay thì không: xã hội đã có tổ chức, thể chế, pháp luật rõ rệt. Không thể ban ngày nại cớ “vì dân trừ bạo” mà phi thân lên nóc nhà, rỡ ngói ra đột nhập gia cư bất hợp pháp. Đâu đó đã có luật pháp. Có thể tranh chấp, chống đối một người một nhóm người, một tổ chức, nhưng phải trong vòng hiến định và luật định.

Bởi lẽ đó, ngườI hiệp sĩ thời nay không thể là một hiệp sĩ sống và làm việc đơn độc theo lối sống “người hùng cô độc” hoặc ở ẩn nơi non cao rừng thẳm vài năm mới vân du hành hiệp một lần. Anh ta phải tôn trọng pháp luật và sống trong vòng pháp luật chớ không thể tự tách rời ra khỏi cộng đồng dù với bất cứ danh nghĩa nào. Muốn chống bất công, giúp ích và hiển ích mọi người chung quanh, anh ta phải hội nhập vào một đòan thể hay một thế lực có chủ thuyết đường lối, quy chế, cơ cầu, tổ chức quy mô, và phải khép mình trong kỷ luật của đòan thể, hay thể lực ấy để cùng trù liệu chương trình làm việc chung. Mục đích vẫn thế, nhưng phương pháp và phương tiện hành hiệp phải đổi thay.

VÀ PHẢI VƯỢT LÊN MỌI ĐỊNH KIẾN, THÀNH KIẾN VỀ ĐỊA PHƯƠNG, MÔN PHÁI, QUỐC GIA, TÔN GIÁO…

Và trước khi giúp tiền, hiến ích mọi người, người hiệp sĩ thời đại chúng ta phải tự tiến trước đã. Phải làm gì để tự tiến? Truớc hết, anh ta phải tự kiểm. Tự kiểm để làm gì? Tự kiểm để thêm tốt bỏ xấu, nói chung là cánh mạng tâm thân theo chiều hướng tốt.

Anh hiệp sĩ thời nay kia chính lạ hình bóng của người môn sinh Việt Võ Đạo chúng ta. Trở lại với những nhu cầu tự tiến, trước hết chúng ta phải thay đổi ngay chính mình -- từ tâm hồn tới thân chất.

Tại sao phải thay đổi thân chất? Và nhu cầu thân chất của người võ đạo là phải mạnh.

Tại sao phải thay đổi tâm hồn? Vì mỗi chúng ta đều bị ràng buộc, bị che mờ vì một số định kiến về địa phương, môn phái, quốc gia, tôn giáo. Với những định kiến nay đã mê hoặc chúng ta, ngăn cách chúng ta với lẽ phải, với chân lý. Nếu được khích lệ, chúng sẽ phát triển thành những thành kiến về địa phương, môn phái khác, quốc gia, tôn giáo. Chúng sẽ làm chúng ta ngộ nhận rằng người địa phương này tốt hơn người địa phương khác, người của môn phái này giỏi hơn người của môn phái khác, người nước này tốt hơn người nước khác, người của tôn giáo này tốt hơn người của tôn giáo khác. Ngộ nhận sẽ đưa đến kỳ thị, là đầu mối của mọi bất công. Trong lúc sự thật khác hẳn: địa phương nào, môn phái nào, quốc gia nào, tôn giáo nào cũng có người giỏi người dở, người tốt người xấu, và sự lượng giá chính xác nhất phải là sự lựng tâm và sự thật -- chính những sự kiện, dữ kiện chớ không phải trên những định lệ, ước đoán vô căn cứ.

Là người Việt Võ Đạo, chúng ta luôn luôn phải đối diên với lương tâm và sự thật -- đó là sứ vụ của người hiệp sĩ hiện đại. Được như vậy, chúng ta sẽ vượt lên được những định kiến, thành kiến để thâu góp mọi di sản tinh hoa võ thuật của ông cha, hội tụ các phương pháp luyện tập; của các vùng lại, sắp xếp, san định thành từng hệ thống: quyền cước riêng, vật và quăng quật riêng, khí giới riêng cùng những công phu luyện nội ngọai công, thần công, khí công, huyền công và ngạnh công v.v…. hầu mở rộng Việt Võ Đạo thành Nhân Võ Đạo, khi đã biết cách hóa giải những sai khác bằng tinh tần võ đạo.

GIÁ TRỊ HÀNH VÕ THẬT SỰ CỦA CÁC MÔN PHÁI NỔI DANH
  • Võ đạo Trung Quốc

Võ đạo Trung Quốc thường lấy phái Thiếu Lâm làm “võ lâm Bắc Đẩu”. Việc này cũng lắm chuyện thật bất ngờ.

Chuyện bất ngờ thứ nhất là, Đạt Ma sư tổ không phải là người Trung Quốc. Ngài gốc từ Ấn Độ, môn đệ của sư tổ Bát Nhã Ba La, vị sư tổ Thiền Tông đời thứ 27, Ngài sang Trung Quốc, chỉ với mục đích truyền bá Thiền Tông, bằng cách tìm một địa điểm biệt tịch để thâu nhận và giáo hóa môn đệ.

Chuyện bất ngờ thứ hai là, trên đường hành đà, ngài gặp một tục gia đệ tử có khí lượng khá là Triệu Khuông Dẫn. Biết Triệu quân có khí độ quân vương, Ngài truyền cho bài “Hồng quyền” gồm 32 thế chính, khai triển tứ thành 128 thế biến. Nhờ đó, họ Trịêu dương danh thiên hạ, và sau khi lên ngôi Tống Thái Tổ, bài “Hồng quyền” được chuyển danh là “Thái Tổ Quyền”. Tống Thái Tổ cũng tri ân tình sư đệ, đích thân tới thăm sư phụ sau khi thành công. Và xuất tiền ra xây lại ngôi chùa cheo họa đồ của tổ sư vẽ sẵn.

Điểm bất ngờ thứ ba là, tục gia đệ tử của Đạt Ma sư tổ đông hơn xuất gia đệ tử, nên môn phái Thiếu Lâm thành hình và hành võ theo các nghiệp vụ của tục gia đương thời: dạy võ, bảo tiêu, bán thuốc dạo, đóng tuồng, binh nghiệp v.v… yểm trợ cho việc quảng bá Thiền Tông bại khắp Trung Quốc và các nước lân bang, kể cả Việt Nam.

Điểm bất ngờ thứ tư, “Hồng quyền” và “Mai Hoa quyền” nổi tiếng hơn hẳn phương pháp thiền tọa “kiết già phu tọa” (Karua Yoga) của Yoga, được gọi là “Dịch Cân Pháp” hay “Dịch Cân Kinh” giúp ích rất nhiều cho việc thiền định, tĩnh tọa và diện bích tư tưởng.

Rõ rệt là võ học Thiếu Lâm chỉ là một phương tiện hoằng dương Thiền đạo, vì đó mới là chủ điểm của Đạt Ma sư tổ Thiền đạo tại Trung Quốc. Các thành tích hành võ khác của tục gia đệ tử, kể cả Triệu Khuông Dẫn, chỉ là thứ yếu.

Kế đó, là môn phái Võ Đang của đạo sĩ Trương Quân Bảo, cũng gọi là Trương Tam Phong (Tâm Phong: ba ngọn núi), một vị xuất đồ của Thiếu Lâm phái. Cũng nặng về tu hành (theo Lão giáo), vị sáng tổ Võ Đang cũng tổ chức môn phái tương tự như Đạt Ma sư tổ. “Thái Cực quyền” được phổ biến rộng, nhờ sự phổ biến rộng rãi Đạo giáo, Loạn Hồng Tú Toàn – Thái Bình Thiên Quốc -- và giặc Cờ Đen v.v… đều xiển dương thành tích này. Hiện nay, Thái Cực quyền của môn phái Võ Đang cũng vẫn được dạy trong chương trình giáo dục của Đài Loan.

Võ đạo Trung Quốc do đó, thiếu hẳn giá trị võ đạo thuần túy mà chỉ còn là một ngành sinh họat yểm trợ, lệ thuộc vào sự phát huy tôn giáo, hoặc hội nhập vào chính trị để trở thành một công cụ đấu tranh chính trị.

  • Võ đạo Nhật Bản

Võ đạo Nhật Bản, gốc từ Nhật Võ Đạo (Bushido), chịu ảnh hưởng mạnh của Thần giáo; và sau đó, được bồi dưỡng thêm bằng tư tưởng Phật giáo.

Khác với võ đạo Trung Quốc nặng về xuất thể và cố giữ vị thế độc lập với chính trị, võ đạo Nhận Bản có truyền thống hội nhập ngay vào sinh họat chính trị, để trở thành một giai cấp xã hội: giai cấp võ sĩ đạo (samurai). Đây là một giai cấp đặc biệt, chỉ Nhật Bản mới có. NgườI võ sĩ đạo Nhật Bản được huấn luyện ngay từ nhỏ những kỹ thuật chiến đấu tay không và võ khí rất lành nghề, và tinh thần Nhật Võ Đạo với những điều luật được ghi chép rõ ràng trong bộ luật “Nhật Võ Đạo”, trong đó có 6 đức tính chính và 3 đức tính phụ. Năm đức tính chính là: sự ngay thẳng tức đức công bằng, đức can đảm, đức nhân từ, đức lễ phép, đức tự kiểm. Ba đức tính phụ là đức vâng lời, đức trung tín, đức yêu việc.

Rõ rệt là người võ sĩ đạo Nhật Bản được huấn luyện để trung thành với chủ: một vị lãnh chúa, một vị tướng quân, hay một vị chủ nhân trọng nghĩa. Bushi -- tiếng Nhật có nghĩa là nghĩa hiệp -- không giống với nghĩa thông thường, mà chỉ có nghĩa là quên mình để nghĩ tới tha nhân -- tức chủ nhân. Truyền thống này đã tạo cho người võ sĩ đạo Nhật Bản có nếp sống thật đặc biệt: vâng lời tuyệt đối minh chủ của mình, suốt đời không đổi chí. Đặc biệt hơn nữa là nước Nhật có những “Tự sát viện” (Seppuku, Rappuku hay Hara-kiri) dành cho những người có tội tới đền tội bằng cách mổ bụng ngã sấp xuống.

Ta thấy tinh thần Nhật Võ Đạo gần như lệ thuộc vào chính trị bằng động cơ tôn giáo. Người võ sĩ đạo Nhật do đó, ít sáng kiến và ý chí tự cường, nhưng ngược lại, giàu can đảm và kỷ luật, rất cần cho sự điều hành tập thể.

  • Võ đạo Triều Tiên

Võ đạo Triều Tiên nằm giữa thông lộ Trung Hoa - Nhật Bản, nên ảnh hưởng rất nhiều ở cả hai nền võ đạo đặc biệt này. Tuy nhiên, không phải vì thế mà người Triều Tiên bỏ quên dân tộc tính. Họ quen sống trên sa mạc tuyết ít nguồn lợi, luôn luôn phải đối địch với đối nhân và đối vật để dành nhu cầu sống, nên rất thực tế. Đánh trên tuyết cần ra đòn mạnh, khai triển tất cả những ưu điểm của thân mình: Túc Quyền Đạo (Tae Kwon Do). Túc Quyền Đạo, đúng như tên của nó, không cần nói nhiều, mà chỉ cần “đá” nhanh, đấm lẹ, để sống còn trên đất tuyết.

Do đó, chúng ta không lạ khi thấy người Triều Tiên thiện dụng cặp chân dài tối đa trên mặt tuyết. Chúng ta cũng không lạ khi thấy người Triều Tiên thường lầm lì ít nói cũng như Túc Quyền Đạo rất nhẹ về lý thuyết võ đạo. Và chúng ta cũng không lạ khi thấy người Triều Tiên nhìn bên ngoài có vẻ ngây ngô, cũng như khi xử thế có phần kém tế nhị và hay dùng bạo lưc. Đó là truyền thống võ đạo đặc biệt của Triều Tiên.

  • Tinh Thần Hiệp Mã Thượng Phương Tây

Ngòai các môn phái võ thuật, võ đạo phương Đông, chúng ta còn có thể đề cập đến tinh thần hiệp mã thượng (chevalerie) phương Tây, một tinh thần võ đạo đặc biệt phản ánh nếp sống phong kiến, trưởng giả của giai cấp quý tộc phương Tây thời Trung cổ.

Tinh thần hiệp mã thượng biểu dương tinh thần “chính nhân” chú trọng tới các nghi thức xứ thể qúy tộc hơn là thực trạng xã hội. Người chính nhân ăn mặc sang trọng, kiểu cách, nói năng mực thước, nhưng không cần thiết lắm tới đức tính tháo vát và lòng nhân đạo. Do đó, ta thấy người quân tử Tàu có thể chết vì bênh yếu chống mạnh, nhưng ta không thể thấy người chính nhân phương Tây làm những công việc tương tự.

Người hiệp mã thượng phương Tây chịu ảnh hưởng sâu đậm ở quan niệm này, nên sự hành võ của họ nặng phần trình diễn hơn là phần thực dụng: lưỡi gươm to bản sáng ngời, bô áo giáp bóng loáng nặng nề, con ngựa thật đẹp, đóng yên cương quá chắc, cây dáo thật to và thật dài nhọn, cồng kềnh. Tất cả, chỉ để sử dụng trong những trường hợp song đấu, trình diễn ở đầu trường hơn là ở chiến trường. Ngoài ra, người hiệp mã thượng còn được ưu đãi quá đặc biệt: nhà cao, cửa rộng, xe ngưa, gia nhân v.v…. nên không hề biết tới thực trạng của một xã hội nhiều bất công, khổ cực. Cuối cùng chính trị xen vài nội bộ của họ, để họ giết nhau và cùng bị tiêu diệt.

GIÁ TRỊ NHÂN BẢN CỦA VIỆT VÕ ĐẠO

Khác với những môn phái võ đạo nhân chịu nhiều ảnh hưởng của tôn giáo và chính trị, hoặc đôi khi, trở thành ngay chính công cụ hoặc phương tiện hành giáo hoặc hành chính, Việt Võ Đạo vẫn giữ vững truyền thống độc lập đặc biệt của mình với truyền thống tổng hợp võ học Việt Nam và truyền thống này được tiếp diễn trong các thời đại tiền Việt Võ Đạo liên tục qua các thời đại lịch sử. Đôi khi, tôn giáo cũng đem lại nhiều ảnh hưởng với võ đạo, nhưng thường hòa hợp vớI võ đạo để trở thành một sức mạnh chung đối phó với cường xâm ngoại nhập. Do đó, các bậc danh tướng, lương thần thường lui về ở ẩn lúc công thành danh toại, với một cuộc sống vừa tiêu diêu, vừa nhiệm thể bằng cách vẫn can dự vào việc làng xã, khi được hỏi ý kiến.

SỨ VỤ VIỆT VÕ ĐẠO TRONG HIỆN TẠI VÀ TƯƠNG LAI

Dạy cho người biết võ rồi hướng dẫn họ phải làm gì lợi ích cho mình và cho người là võ đạo. Còn có Đạo sẵn rồi mới học võ để bảo vệ và phát huy Đạo, thì chỉ là dùng võ để làm phương tiện, làm công cụ, chứ không phải “làm võ đạo”.

Việt Võ Đạo đi theo con đường võ đạo độc lập và thuần túy, nhất thiết từ chối mọi chi phối, đồng hóa của tôn giáo và chính trị. Do đó, Việt Võ Đạo đang phát triển để trở thành võ đạo của võ đạo, tức võ đạo thuần nhất của con người.

Các võ sư, HLV Việt Võ Đạo cần ý hội sứ vụ này trong tương lai quảng phát võ đạo vào cộng đồng nhân loại, bằng cách phát huy song song tinh thần võ đạo và kỹ thuật võ học.

Tinh thần võ đạo đó phảI được thể hiện bằng nếp sống, tình cảm, cách ăn ở, đối đãi với tha nhân sao cho mọi người hiểu và kính mình trước khi đến thụ giáo. Chúng ta phải truyền thống ấn tượng tốt vào cảm quan của đối tượng về một tinh thần võ đạo thật sự không biên giới quốc gia, giai cấp, tôn giáo. Trường hợp đãi ngộ ưu tiên cho những người bằng cấp lớn vào địa vị cao trong Việt Võ Đạo chỉ là sự đáp ứng những tiêu chuẩn tiếp thụ tinh thần võ đạo, chớ không phải vì tiêu chuẩn bằng cấp độc tôn hay tiên quyết.

Kỹ thuật cần tinh tiến, đổi mới, võ đạo càng lâu đời càng có truyền thống, càng được tôn quý. Việt Võ Đạo là kết tinh của tinh thần và kỹ thuật chiến đấu để giữ nước, dựng nước và mở nước của dân tộc Việt có từ thời lập quốc. Võ sư sáng tổ Nguyễn Lộc là người đầu tiên có công thâu thập kho tàng võ học phong phú của dân tộc ẩn náu ở nhiều vùng với nhiều phương pháp huấn luyện độc đáo, đặc dị, san định, và bổ túc phần phân thể thất truyền, rồI hệ thống hóa và hiện đại hóa thành Vovinam Việt Võ Đạo.

Giá trị nhân bản ưu việt của Việt Võ Đạo là ở chỗ: từ ái, hòa giải, kếp hợp, bao dung và bình đẳng với mọi người, không phân biệt hoặc kỳ thị địa phương, quốc gia, giai cấp, tôn giáo hay chính kiến.


Our Sponsors

GRAPHICS & WEB DESIGN

TRAN's
CHIROPRACTIC
&ACUPUNCTURE


BUY or SELL
HOME?

 

 

Designed by Gravitas Consulting